Thánh Louise sinh ở Ferrieres-en-Brie gần
Meux, nước Pháp, mồ côi mẹ khi còn nhỏ, và khi được 15 tuổi thì mồ côi cha. Ao
ước của thánh nữ là trở nên một nữ tu nhưng cha giải tội đã ngăn cản, và sau đó
ngài kết hôn với ông Antony LeGras. Trong hôn nhân này họ có được một đứa con
trai. Nhưng sau đó không lâu, ông Antony đã từ giã cõi đời sau một thời gian
đau yếu lâu dài.
Bà Louise may mắn có được các cha linh hướng
khôn ngoan và dễ mến, đó là Thánh Francis de Sales, và người bạn của ngài là
Ðức Giám Mục của Belley, nước Pháp. Bà Louise không gặp hai vị thường xuyên,
nhưng tận trong thâm tâm, bà linh cảm thấy rằng mình sẽ đảm nhận một công việc
nặng nề dưới sự hướng dẫn của một người chưa bao giờ quen biết. Ðó là vị linh
mục thánh thiện Vincent, mà sau này là Thánh Vincent de Paul.
Lúc đầu, Cha Vincent do dự nhận lời làm cha
giải tội cho bà Louise, vì sự bận rộn của ngài với tổ chức "Các Chị Em
Bác Ái." Hội viên của tổ chức này là các bà quý tộc có lòng nhân từ,
giúp đỡ cha chăm sóc người nghèo và các em bị bỏ rơi, là công việc rất cần
thiết trong thời gian ấy. Nhưng các bà cũng phải bận rộn với nhiệm vụ và công
việc gia đình. Trong khi công việc của cha thì cần rất nhiều người giúp đỡ,
nhất là những nông dân vì họ gần gũi với người nghèo và dễ có cảm tình với họ.
Ngài cũng cần ai đó có thể dạy cho họ biết đọc biết viết và tổ chức sinh hoạt
hội đoàn cho họ.
Chỉ sau một thời gian khá lâu, khi Cha Vincent
ngày càng quen biết với bà Louis, thì ngài mới nhận ra rằng bà là người mà Chúa
đã gửi đến để đáp lại lời cầu xin của cha. Bà Louis thông minh, khiêm tốn và có
sức chịu đựng bền bỉ. Sau một thời gian thi hành các công việc mà cha giao phó,
bà tìm thêm được bốn phụ nữ bình dị khác đến tiếp tay. Căn nhà thuê của bà ở
Balê đã trở thành trung tâm săn sóc người nghèo và người đau yếu. Và đó là khởi
đầu của tu hội Nữ Tu Bác Ái của Thánh Vincent de Paul, (mặc dù Cha Vincent muốn
gọi tổ chức này là "Nữ Tử" Bác Ái). Bà tuyên khấn năm 1634 và tu hội
đã thu hút được nhiều người tham gia.
Cha Vincent thường từ tốn và khôn ngoan trong
cách cư xử với bà Louis và tổ chức mới này. Ngài nói không bao giờ ngài muốn
thành lập một cộng đoàn mới, mà chính là Thiên Chúa thi hành mọi sự. Cha nói,
"Tu viện của con sẽ là nhà của người bệnh; phòng của con là phòng cho
thuê mướn; nhà nguyện của con là nhà thờ của giáo xứ; khuôn viên nhà dòng là
đường phố hay các khu vực nhà thương." Y phục của họ là y phục của phụ
nữ nông dân. Mãi cho đến vài năm sau, Cha Vincent de Paul mới cho phép bốn phụ
nữ khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Và phải mất nhiều năm hoạt động thì
Tòa Thánh mới chính thức công nhận tu hội này và đặt dưới sự hướng dẫn của Cha
Vincent và Tu Hội Truyền Giáo.
Bà Louis đi khắp nước Pháp, thành lập chi
nhánh trong các bệnh viện, cô nhi viện và các tổ chức khác. Cho đến khi từ
trần, ngày 15 tháng Ba 1660, tu hội của bà đã có trên 40 nhà ở nước Pháp. Kể từ
đó họ đã phát triển trên toàn thế giới.
Bà Louise de Marillac được Ðức Giáo Hoàng Piô
XI phong thánh năm 1934, và năm 1960 thánh nữ được Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII
đặt làm Quan Thầy các Cán Sự Xã Hội.
1/ Bài đọc I: 23 Nhưng điều Ta truyền cho chúng là: Hãy
nghe tiếng Ta thì Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi, và các ngươi sẽ là dân của Ta.
Hãy bước theo mọi đường lối Ta truyền dạy, để các ngươi được hạnh phúc.
24 Nhưng chúng chẳng nghe, chẳng để tai, cứ theo những suy tính
của mình, theo tâm địa ngoan cố xấu xa; chúng đã lùi chứ không tiến.
25 Từ ngày cha ông chúng ra khỏi đất Ai-cập tới nay, ngày này
qua ngày khác, Ta không ngừng sai tất cả các tôi tớ của Ta là các ngôn sứ đến
với chúng;
26 nhưng chúng đã không nghe, cũng chẳng để tai, lại ra cứng
đầu cứng cổ. Chúng hành động còn xấu hơn cả cha ông chúng nữa.
27 Vậy, ngươi sẽ nói với chúng tất cả những điều ấy, nhưng
chúng chẳng nghe đâu; ngươi sẽ gọi chúng, chúng chẳng trả lời đâu.
28 Bấy giờ ngươi sẽ nói: Đây là dân tộc không biết nghe tiếng
ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của mình, không chấp nhận lời sửa dạy: sự chân thật đã
tiêu tan và biến khỏi miệng nó.
2/ Phúc Âm: 14 Bấy giờ Đức Giê-su trừ một tên quỷ, và
nó là quỷ câm. Khi quỷ xuất rồi, thì người câm nói được. Đám đông lấy làm ngạc
nhiên.
15 Nhưng trong số đó có mấy người lại bảo: "Ông ấy dựa thế
quỷ vương Bê-en-dê-bun mà trừ quỷ."
16 Kẻ khác lại muốn thử Người, nên đã đòi Người một dấu lạ từ
trời.
17 Nhưng Người biết tư tưởng của họ, nên nói: "Nước nào tự
chia rẽ thì sẽ điêu tàn, nhà nọ đổ xuống nhà kia.
18 Nếu Xa-tan cũng tự chia rẽ chống lại chính mình, thì nước nó
tồn tại sao được? ... bởi lẽ các ông nói tôi dựa thế Bê-en-dê-bun mà trừ quỷ.
19 Nếu tôi dựa thế Bê-en-dê-bun mà trừ quỷ, thì con cái các ông
dựa thế ai mà trừ? Bởi vậy, chính họ sẽ xét xử các ông.
20 Còn nếu tôi dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là
Triều Đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông.
21 Khi một người mạnh được vũ trang đầy đủ canh giữ lâu đài của
mình, thì của cải người ấy được an toàn.
22 Nhưng nếu có người mạnh thế hơn đột nhập và thắng được người
ấy, thì sẽ tước lấy vũ khí mà người ấy vẫn tin tưởng và sẽ đem phân phát những
gì đã lấy được.
23 "Ai không đi với tôi là chống lại tôi, và ai không cùng
tôi thu góp là phân tán.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Biết nghe lời Thiên Chúa là điều kiện để đạt hạnh
phúc.
Khi phải đối diện với Lời Chúa hay những công việc Chúa làm, con
người thường có ba thái độ chính: tích cực vâng lời và làm theo những gì Thiên
Chúa răn bảo; hay dửng dưng coi thường “khó quá, ai làm nổi;” hoặc tiêu cực tìm
lý do phê bình để khỏi phải làm như “ở Nazareth nào có cái chi hay!”
Các Bài Đọc hôm nay chú trọng nhiều đến phản ứng sau cùng, con
người không những không nghe lời Thiên Chúa, lại còn phê phán buộc tội để khỏi
phải nghe và làm theo. Trong Bài Đọc I, dân chúng không chịu nghe tiếng Thiên
Chúa và cũng chẳng chịu nghe Jeremiah, ngôn sứ của Ngài. Đã vậy, họ còn mạ lỵ
Jeremiah và còn tìm đủ cách để có cớ lọai trừ ông. Trong Phúc Âm, chứng kiến
phép lạ Chúa Giêsu khai trừ quỉ câm, một số người đã không tin uy quyền của
Chúa Giêsu, lại còn mạ lỵ Ngài: “Ông ấy dựa thế quỷ vương Beelzebul mà trừ
quỷ.” Nói cách khác, họ có ý muốn nói: Chúa Giêsu là đồng bọn của ma quỉ để dân
chúng đừng tin vào Ngài
.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Đây là dân tộc không biết nghe tiếng Đức Chúa.
1.1/ Dân Chúa phải nghe tiếng Thiên Chúa: Nghe tiếng Thiên Chúa là
điều kiện trước tiên để con người nhận ra sự thật hay ý định của Thiên Chúa cho
con người. Con người phải biết nghe thì mới biết cách làm; nếu con người không
chịu nghe thì sẽ không biết cách làm hoặc làm sai. Nếu làm sai, con người sẽ
phải lãnh nhận mọi hậu quả xấu. Nếu một người không nghe theo tiếng Thiên Chúa,
người đó không còn là con Thiên Chúa nữa. Vì thế, Chúa truyền cho con người:
“Hãy nghe tiếng Ta thì Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi, và các ngươi sẽ là dân
của Ta. Hãy bước theo mọi đường lối Ta truyền dạy, để các ngươi được hạnh
phúc.”
Không nghe tiếng Thiên Chúa là lý do con người đã không tiến tới
mà còn lùi bước. Con người không muốn nghe tiếng Thiên Chúa vì họ kiêu ngạo
nghĩ mình đã biết cách giải quyết vấn đề, hay nghe theo tiếng của thần khác
Thiên Chúa. Đây là tình trạng của dân tộc Israel trước Thời Lưu Đày, như
Jeremiah trình thuật: “Nhưng chúng chẳng nghe, chẳng để tai, cứ theo những suy
tính của mình, theo tâm địa ngoan cố xấu xa; chúng đã lùi chứ không
tiến.”
1.2/ Dân Chúa phải nghe tiếng các ngôn-sứ của Thiên Chúa: Vì tình
thương, Thiên Chúa không sửa phạt dân ngay; nhưng Ngài luôn sai các ngôn sứ của
Ngài tới để kêu gọi dân chúng ăn năn trở lại: “Từ ngày cha ông chúng ra khỏi
đất Ai-cập tới nay, ngày này qua ngày khác, Ta không ngừng sai tất cả các tôi
tớ của Ta là các ngôn sứ đến với chúng; nhưng chúng đã không nghe, cũng chẳng
để tai, lại ra cứng đầu cứng cổ. Chúng hành động còn xấu hơn cả cha ông chúng
nữa.”
Chúa nói trước với Jeremiah về sự cứng lòng của dân, để ông biết
Ngài đã kiên nhẫn sửa dạy dân; và cũng để ông khỏi ngạc nhiên khi chứng kiến sự
cứng lòng của họ: “Vậy, ngươi sẽ nói với chúng tất cả những điều ấy, nhưng
chúng chẳng nghe đâu; ngươi sẽ gọi chúng, chúng chẳng trả lời đâu.” Sau cùng,
tiên tri Jeremiah phải đồng ý với Thiên Chúa: dân chúng xứng đáng chịu hình
phạt và thời chiến tranh và lưu đày phải xảy ra, vì “Đây là dân tộc không biết
nghe tiếng Đức Chúa, Thiên Chúa của mình, không chấp nhận lời sửa dạy: sự chân
thật đã tiêu tan và biến khỏi miệng nó.”
2/ Phúc Âm: Thái độ tiêu cực của con
người:
2.1/ Thái độ của con người trước phép lạ Chúa Giêsu làm: Có 3 phản
ứng của con người khi họ chứng kiến phép lạ Chúa Giêsu chữa một người khỏi
quyền lực của quỉ câm:
(1) Đám đông lấy làm ngạc nhiên.
(2) Nhưng trong số đó có mấy người lại bảo: "Ông ấy dựa thế
quỷ vương Beelzebul mà trừ quỷ."
(3) Kẻ khác lại muốn thử Người, nên đã đòi Người một dấu lạ từ
trời. Vừa chứng kiến dấu lạ, lại đòi một phép lạ khác trước khi có thể
tin!
2.2/ Thái độ tích cực của Chúa Giêsu: Ngài kiên nhẫn cắt nghĩa và
muốn họ nhận ra hai điều:
(1) Một người không thể dựa thế quỷ vương Beelzebul mà trừ quỷ:
Một người có thể dựa thế người khác để làm tất cả mọi điều, nhưng không thể để
khai trừ những người thuộc quyền họ; vì đòan kết là điều kiện chính để sinh
tồn: "Nước nào tự chia rẽ thì sẽ điêu tàn, nhà nào tự chia rẽ thì sẽ đổ
xuống. Nếu Satan cũng tự chia rẽ chống lại chính mình, thì nước nó tồn tại sao
được? Bởi lẽ các ông nói tôi dựa thế Beelzebul mà trừ quỷ.” Hơn nữa, có nhiều
người trừ quỉ trong Israel trước thời Chúa Giêsu; ngay cả Vua Solomon cũng trừ
quỉ bằng các cây cỏ. Vì thế, nếu họ tố cáo Chúa Giêsu thuộc về ma quỉ, họ cũng
tố cáo tất cả những người này: “Nếu tôi dựa thế Beelzebul mà trừ quỷ, thì con
cái các ông dựa thế ai mà trừ? Bởi vậy, chính họ sẽ xét xử các ông.”
(2) Chúa Giêsu đến để vô hiệu hóa các quyền lực của ma quỉ: “Còn
nếu tôi dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là Triều Đại Thiên Chúa đã
đến giữa các ông.” Ngài cắt nghĩa thêm: “Khi một người mạnh được vũ trang đầy
đủ canh giữ lâu đài của mình, thì của cải người ấy được an toàn. Nhưng nếu có
người mạnh thế hơn đột nhập và thắng được người ấy, thì sẽ tước lấy vũ khí mà
người ấy vẫn tin tưởng và sẽ đem phân phát những gì đã lấy được.” Ma quỉ chỉ có
quyền lực trên con người, trong lâu đài của chúng là thế gian này. Vương quốc
của chúng được an tòan khi Chúa Giêsu chưa đến. Nhưng khi Triều Đại của Ngài
đến, mọi sự thay đổi. Vì Ngài có quyền lực mạnh hơn ma quỉ, nên Ngài có thể
khai trừ chúng khỏi con người như trình thuật hôm nay. Ngài vô hiệu hóa các vũ
khí chúng dùng để cai trị con người như: kiêu ngạo, tham muốn, hưởng thụ vật
chất ... Một khi con người quyết tâm theo Chúa, ma quỉ sẽ không dám đụng chạm
tới họ. Ma quỉ chỉ có quyền trên những ai muốn ở lại với chúng.
2.3/ Không thể giữ thái độ trung lập trên bước đường theo Chúa:
Truyền thống Do-thái tin cuộc đời này là bãi chiến trường tranh chấp giữa quyền
lực của Thiên Chúa và của ma quỉ, giữa con cái của ánh sáng và của bóng tối.
Trong cuộc giao chiến này, con người không thể đứng trung lập: Họ phải chọn
giữa Thiên Chúa hoặc ma quỉ, giữa ánh sáng và bóng tối, như Chúa Giêsu tuyên
bố: "Ai không đi với tôi là chống lại tôi, và ai không cùng tôi thu góp là
phân tán.” Một người chọn đứng bên lề, chọn không tham gia những công việc hữu
ích, là chọn để giúp cho các công việc gây thiệt hại có cơ hội phát triển. Họ
cũng không thể chọn cả hai bên: vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi ma quỉ, vì
hai bên không đội trời chung.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Nghe theo tiếng Chúa là điều kiện tiên quyết để con người có
hạnh phúc.
- Chúng ta cần có thái độ tích cực để nhận ra và thi hành điều hữu
ích trong cuộc sống. Cần tránh thái độ tiêu cực chỉ biết “vạch lá tìm sâu” và
luôn nghi ngờ thiện chí của tha nhân.
- Không cộng tác với Thiên Chúa là cộng tác với ma quỉ. Không có
thái độ trung lập và cũng chẳng có thái độ làm tôi hai chủ trong cuộc đời này.